Tạo cơ chế thúc đẩy ngành dầu khí

10:53 | 18/03/2020

|
Theo Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11-2-2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành dầu khí sẽ hiện thực hóa mục tiêu cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, đáp ứng cho các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030.

Theo đó, đến năm 2030, bảo đảm cung cấp khoảng 175 triệu đến 195 triệu tấn; đến năm 2045 đáp ứng khoảng 320 triệu đến 350 triệu tấn dầu quy đổi. Ðây được coi là nhiệm vụ đầy thách thức với ngành dầu khí nói chung và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) nói riêng trong bối cảnh công tác tìm kiếm, thăm dò gia tăng trữ lượng dầu khí trong những năm gần đây đang sụt giảm và đối diện nhiều khó khăn, thách thức. Số liệu thống kê của PVN cho thấy, việc gia tăng trữ lượng khai thác dầu khí trong 5 năm qua sụt giảm mạnh. Hệ số bù trữ lượng (gia tăng trữ lượng/sản lượng khai thác dầu khí) năm 2019 chỉ đạt 0,63 lần và là lần thứ tư liên tiếp kể từ năm 2016 đến nay, hệ số này tiếp tục ở mức báo động, không bảo đảm phát triển bền vững. Ðây là thách thức rất lớn đối với công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí trong giai đoạn tới.

Ðể hoàn thành mục tiêu đề ra, PVN đã triển khai các giải pháp để tăng cường công tác tìm kiếm thăm dò tài nguyên dầu khí ở trong nước, đồng thời tìm kiếm cơ hội thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài trên cơ sở có hiệu quả kinh tế, có trọng tâm, trọng điểm. Ðẩy mạnh thăm dò các khu vực đang khai thác nhằm tận dụng cơ sở hạ tầng và duy trì sản lượng khai thác; thúc đẩy công tác điều tra cơ bản, tìm kiếm thăm dò gia tăng trữ lượng, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí ở trong nước; tiếp tục đầu tư tìm kiếm thăm dò khai thác ở khu vực nước sâu, xa bờ khi điều kiện thuận lợi. Bên cạnh đó, PVN tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò các dạng hydrocarbon phi truyền thống (khí hydrate, khí than, khí nông, khí đá phiến,...), các loại bẫy chứa phi truyền thống, tối ưu việc khoan đan dày, lựa chọn đối tượng nứt vỉa thủy lực,... Triển khai nghiên cứu, thử nghiệm và đưa vào ứng dụng các công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu, coi đây là nhiệm vụ chính cho chiến lược thăm dò khai thác trong thời gian tới. Trong đó, đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu và phân tích dữ liệu,… để tối ưu hóa việc điều hành và quản trị các hoạt động, tiết giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực thăm dò khai thác.

Có thể thấy, công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí đang đối diện với nhiều thách thức khi các phát hiện gần đây đa số có quy mô nhỏ, các đối tượng mới như bẫy địa tầng, bẫy phi cấu tạo có rủi ro cao. Phần lớn tiềm năng dầu khí nằm ở khu vực nhạy cảm, nước sâu, xa bờ, đòi hỏi công nghệ cao, chi phí lớn, gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư và ký hợp đồng dầu khí mới trong khi nguồn vốn trong nước rất hạn chế, cơ chế chính sách, các điều khoản của hợp đồng chia sản phẩm (PSC) còn nhiều vướng mắc, không đủ hấp dẫn nhà đầu tư. Do đó, để triển khai được các nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết số 55-NQ/TW, Chính phủ, các bộ, ngành cần sớm xem xét có cơ chế tạo nguồn vốn và cơ chế khấu trừ chi phí (write off) đối với hoạt động khoan thăm dò, thẩm lượng; cơ chế khuyến khích, thu hút đầu tư đặc biệt cho các khu vực tiềm năng dầu khí hạn chế; tăng nguồn trích lập và mở rộng đối tượng sử dụng Quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí.

Theo Báo Nhân dân

tao co che thuc day nganh dau khiCần sự điều chỉnh mang tính chiến lược để ngành Dầu khí vượt khó
tao co che thuc day nganh dau khiGia tăng trữ lượng dầu khí để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia